Tin giáo dục
Vài suy nghĩ về chất lượng quản lý giáo dục và đào tạo hiện nay tại Việt Nam Cập nhật 18/11/2015 Lượt xem 1225

Hiện nay, vấn đề chất lượng giáo dục và đào tạo đang ngày càng thu hút sự chú ý của xã hội. Câu hỏi làm thế nào để nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo đang là trăn trở của những người làm công tác giáo dục cũng như của tất cả những ai quan tâm đến tương lai đất nước.

Trong cuộc phỏng vấn đầu năm 2010, Báo Giáo dục và Thời đại đã làm việc với TS. Nguyễn Kim Dung – Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu Giáo dục và các vấn đề nổi cộm như thế của Việt Nam. Sau đây là các trao đổi của phóng viên và TS. Nguyễn Kim Dung:

 

PV: Là một người làm công tác nghiên cứu về giáo dục, chị có nhận xét gì về giáo dục Việt Nam 5 năm vừa qua?

 

Từ những năm đầu thế kỷ 21, GD VN có những bước chuyển mới. Cùng với sự mở cửa của đất nước, GD Việt Nam bắt đầu tiếp cận với các nền GD tiên tiến trên thế giới, nhờ đó, có những thay đổi theo hướng hiện đại và cởi mở hơn. Tuy nhiên, cũng do được tiếp cận với nhiều mô hình GD trên thế giới mà chúng ta nhận ra rằng hệ thống GD của mình có nhiều vấn đề.

Trong 5 năm qua (2004-2009), chúng ta đã có những nỗ lực và mong muốn bắt kịp với thế giới và các nền giáo dục tiên tiến. Mong muốn đó kéo theo quyết tâm ‘rút ngắn’ thời gian, ‘đi tắt đón đầu’. Tuy nhiên, giáo dục có liên quan nhiều và là hệ quả của các tư tưởng, quan điểm, văn hóa, nhận thức…mà đấy là những lĩnh vực luôn có nguồn gốc, nguyên nhân sâu xa. Chính vì vậy mà trong thời gian năm năm qua, nhiều người làm giáo dục trong chúng ta chợt nhận ra là không thể thay đổi trên ‘ngọn’ mà phải bắt đầu từ cái ‘sâu xa’ đó, từ ‘gốc’.

 

PV: Những đổi mới đáng ghi nhận và những hạn chế còn tồn tại mà chúng ta đã nhìn thấy? Chị có thể cho độc giả Báo GD&TĐ biết.

 

Trong thời gian qua, hàng loạt các đổi mới và vấn đề nóng thu hút sự quan tâm của cả hệ thống GD lẫn dư luận xã hội như: nhu cầu nâng cao chất lượng GD&ĐT, yêu cầu tự chủ đại học, thay đổi đánh giá kết quả học tập và tiêu chuẩn đầu ra, nhu cầu đổi mới phương pháp giảng dạy, đổi mới quản lý ở cấp hệ thống, trường/cơ sở GD&ĐT, sự xuất hiện của các mô hình đào tạo khác nhau như đào tạo theo nhu cầu xã hội, thay đổi đào tạo theo học chế tín chỉ, sự xuất hiện của các loại hình trường khác nhau nhằm đáp ứng các nhu cầu đa dạng của người học, chủ trương phân hóa, phân ban trong giáo dục trung học, nhu cầu xã hội hóa GD, sự xuất hiện của nhu cầu có được trường đẳng cấp quốc tế… Nhìn chung, tôi đánh giá cao sự năng động của hệ thống GD của chúng ta trong những nỗ lực hội nhập và tìm tòi mô hình thích hợp, tuy nhiên, có rất nhiều vấn đề mà tôi cho rằng nếu không giải quyết hoặc tránh giải quyết, chúng ta vẫn cứ tiếp tục bị tụt hậu.

Một trong các vấn đề đó là cơ chế quản lý của chúng ta vẫn còn nặng tính bao cấp và thiếu sáng tạo. Theo tôi, đó là nguyên nhân của các nguyên nhân và đó là một trong các tồn tại của hệ thống GD Việt Nam. Các tồn tại khác: 1) Sự thiếu hiệu quả trong sử dụng và quản lý nguồn lực (bao gồm cả nhân lực, vật lực và tài lực); 2) Sự lạc hậu so với thực tế của cơ chế tài chính trong toàn hệ thống cấp nhà nước; 3) Sự yếu kém trong việc thu thập và quản lý thông tin trong thời đại công nghệ thông tin của cả cấp hệ thống lẫn cấp cơ sở…Các tồn tại này kéo theo nhiều tồn tại khác như quản lý yếu kém và ngại thay đổi trong nhà trường theo hướng có lợi cho người học; phương pháp giảng dạy cứng nhắc và không hiệu quả; sự thiếu minh bạch trong thông tin về chất lượng nhà trường; bệnh chạy theo thành tích và các áp lực không lành mạnh trong môi trường sư phạm…

 

PV: Theo chị, những cuộc vận động và thực hiện có chủ đích trong lộ trình “chấn hưng” và phát triển giáo dục trong 5 năm vừa qua như: Cuộc vận động hai không, học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh, đổi mới chất lượng và quản lý giáo dục thật sự đã mang lại hiệu quả chưa?

 

Tôi chưa có các nghiên cứu về ‘Cuộc vận động hai không, học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh’ nên tôi chưa thể đưa ra ý kiến gì về các cuộc vận động này. Tôi có nghiên cứu yêu cầu đổi mới chất lượng và quản lý giáo dục. Theo tôi, còn quá sớm để kết luận rằng chúng ta đã có thể nâng cao được chất lượng giáo dục trong vòng 5 năm qua, nhưng rõ ràng hiện nay vấn đề chất lượng đang thu hút sự quan tâm của tất cả các tầng lớp khác nhau trong xã hội. Các vấn đề có liên quan như yêu cầu đảm bảo chất lượng, kiểm định chất lượng đang được các trường chú ý hơn và do đó, gây áp lực lên các nhà quản lý, bắt buộc phải có các thay đổi. Tuy nhiên, có thể thấy văn hóa chất lượng còn là công việc dài hơi mà chúng ta phải theo đuổi. Như tôi đã đề cập ở trên, hệ thống giáo dục của chúng ta còn nhiều bất cập và tồn tại để có thể thật sự mang lại hiệu quả mong muốn. Chính vì vậy, để đạt được các mục tiêu quốc gia đã đề ra trong dự thảo chiến lược phát triển giáo dục, chúng ta cần ít nhất hơn 10 năm nữa.

 

PV: Những thắng lợi về mặt văn hóa, tư tưởng, thậm chí là về mặt tư duy trong mọi tầng lớp nhân dân trong xã hội về cái gọi là làm giáo dục ít nhiều đã thể hiện rõ. Theo chị, phải chăng nền giáo dục của chúng ta đang đi đúng hướng?

 

Khi đất nước mở cửa, dù muốn hay không giáo dục của chúng ta cũng phải mở cửa. Có thể nói, sau khi chính sách đổi mới, mở cửa ra đời, kinh tế Việt Nam đã có sự biến chuyển rõ rệt, dẫn đến những thành tựu mang tính đột phá trong các lĩnh vực như công nghệ thông tin, nông nghiệp, công nghiệp nhẹ... Giáo dục, do đó, bắt buộc phải thay đổi theo hướng đáp ứng nhu cầu giáo dục và đào tạo nguồn nhân lực cho xã hội. Ở góc độ này, tôi cho là chúng ta đang đi đúng hướng.

Tuy nhiên, dù xác định đúng hướng phát triển, việc thực hiện lại có rất nhiều bất cập và con đường mà giáo dục Việt Nam đang đi không phải lúc này cũng theo lộ trình đã vạch ra, thậm chí, có khi đi chệch, phải quay lại. Trước đây, và đặc biệt là hiện nay, hầu hết người dân Việt Nam đều nhận ra vai trò của giáo dục. Càng ngày càng nhiều người có mong muốn tiếp cận với giáo dục bậc cao và đó là các yêu cầu chính đáng. Ai cũng hiểu là muốn có một nền giáo dục chất lượng, chúng ta phải tốn rất nhiều tiền, tuy nhiên, không phải ai cũng hiểu là nếu bằng lòng với giáo dục rẻ tiền, chúng ta càng phải trả giá nhiều lần hơn nữa. Cách làm giáo dục hiện nay của chúng ta vẫn chưa thật sự hiệu quả và đôi lúc, làm chậm quá trình phát triển.

Tuy nhiên, như tôi đã nói, nhìn chung, giáo dục của chúng ta đang hướng đến sự hội nhập và đã vạch ra được cho mình một lộ trình phải đi.

 

PV: Nếu nói là thành công và đang đi đúng lộ trình. Vậy nhiệm vụ trọng tâm trong vài năm tới của giáo dục Việt Nam sẽ là gì?

 

Tôi nghĩ, là thực hiện kế hoạch chiến lược của giáo dục Việt Nam.

 

PV: Chị có nghĩ, giáo dục ĐH của chúng ta cần phải có sự đổi mới và “lột xác” hoàn toàn không khi nhiều chuyên gia cho rằng giáo dục ĐH của chúng ta đang lỗi thời.

 

Theo tôi, hiếm có nền giáo dục nào có thể phát triển trên nền tảng ‘đảo lộn’ hoàn toàn. Dù muốn dù không, chúng ta vẫn phải chấp nhận những gì mà mình đang có và cố gắng xây dựng cái mới trên nền tảng đó. Tôi hoàn toàn đồng ý rằng có rất nhiều ‘thứ’ trong hệ thống GD ĐH Việt Nam đã rất lỗi thời, ví dụ như cách quản lý giảng viên/nhân viên như hiện nay, qui trình xây dựng chương trình, hệ thống trả lương/công, cách quản lý hiệu quả công việc…Tuy nhiên, rõ ràng không thể phủ nhận là có nhiều trường ĐH hiện nay đang có nhiều thay đổi theo hướng tốt hơn, tiến bộ hơn. Nếu có muốn ‘lột xác’, theo tôi, nên ‘lột’ từ trên, nên thay đổi từ cách quản lý, từ cơ chế. Khi chúng ta có một cơ chế quản lý tốt, nhiều cái khác sẽ thay đổi. Kinh nghiệm làm việc với các trường ĐH của tôi cho thấy rằng sẽ rất khó có thể thay đổi nếu như các nhà lãnh đạo không tham gia vào và không đưa ra các quyết định đúng. Các nhà lãnh đạo ở các trường ĐH cũng vậy, cũng cần có chỉ đạo từ cấp trên của mình để ra quyết định.

 

PV: Là một chuyên gia nhiều năm nghiên cứu về các quy luật phát triển của giáo dục, cũng như những đổi thay mang tính quy luật. Chị đánh giá thế nào về chất lượng giáo dục các bậc học ( giáo dục toàn diện và các kỹ năng mềm) hiện nay của chúng ta?

 

Tôi chưa có các nghiên cứu nhiều về bậc tiểu học và trung học cơ sở. Lĩnh vực mà tôi đang nghiên cứu có liên quan đến GD ĐH nhiều hơn. Hiện tôi đang nghiên cứu về chương trình giáo dục trung học phổ thông. Theo tôi, giáo dục phổ thông của chúng ta đã có rất nhiều ưu điểm, đặc biệt là trong việc giáo dục thanh thiếu niên trong độ tuổi đến trường (vốn chiếm một tỉ lệ lớn/dân số Việt Nam) trong một điều kiện còn quá nhiều thiếu kém về cơ sở vật chất lẫn con người. Tuy nhiên, đến thời điểm này, giáo dục phổ thông phải thay đổi để có thể đáp ứng được các nhu cầu mới của một thời đại mới. Các trường của chúng ta hiện nay còn thiên nhiều về dạy chữ hơn dạy người, dạy kiến thức hơn dạy kỹ năng mềm.

 

PV: Để một nền giáo dục phát triển một cách bền vững, toàn diện và thật sự chất lượng (ở mọi khía cạnh) theo chị chúng ta cần phải làm gì, xây dựng những điều gì trong cái gọi là nền tảng cơ bản cho quá trình chấn hưng và nâng tầm giáo dục Việt Nam?

 

Xây dựng kế hoạch chiến lược phù hợp hơn với mục tiêu GD&ĐT; thay đổi cơ chế quản lý GD&ĐT; đào tạo lại và đào tạo mới các nhà quản lý GD để có tính chuyên nghiệp hơn, có tầm nhìn, dám làm và dám chịu trách nhiệm; dành nhiều quyền tự chủ hơn cho các trường ĐH; củng cố hoạt động đảm bảo và kiểm định chất lượng.

 

PV: Với một người làm nghiên cứu về các quy luật vận động, phát triển của một nền giáo dục, về các mối quan hệ biện chứng giữa giáo dục với nền kinh tế và phạm trù văn hóa xã hội. Chị đánh giá thế nào về việc phát triển của nền giáo dục Việt Nam trên tổng hòa các mối quan hệ ấy?

 

Tôi không nghĩ mình là người làm nghiên cứu về các quy luật vận động, phát triển của một nền giáo dục dù tôi có đọc nhiều về các thay đổi của một số hệ thống giáo dục. Chúng ta thường được học và nghe nhiều đến vấn đề duy vật biện chứng, vật chất quyết định tinh thần, hạ tầng cơ sở quyết định thượng tầng kiến trúc…Giáo dục tự nó không tồn tại độc lập mà có mối liên hệ chặt chẽ với kinh tế và văn hóa. Theo tôi, ở rất nhiều nước trên thế giới, giáo dục là nơi thay đổi chậm nhất. Ở Việt Nam cũng vậy. Tuy nhiên, giáo dục có thể góp phần vào việc phát triển, tái tạo xã hội vì đối tượng của giáo dục luôn là con người. Giáo dục Việt Nam chịu ảnh hưởng rất nhiều của kinh tế và văn hóa, giáo dục Việt Nam cũng đóng góp nhiều trong việc cung cấp nguồn nhân lực cho kinh tế và làm giàu nền văn hóa Việt Nam. Tuy nhiên, tôi vẫn mong là giáo dục Việt Nam cần phải làm nhiều hơn thế, do hiện nay, chúng ta vẫn đang gởi rất nhiều sinh viên, người học ra nước ngoài để có được nền giáo dục tốt hơn. Rõ ràng, trong thời gian gần đây, nhiều người trong số những con người đó đã trở về và đóng góp nhiều cho kinh tế, giáo dục và cả văn hóa Việt Nam.

Thực hiện: Nguyễn Anh Tú
(Phóng viên Báo Giáo Dục & Thời Đại)

 

Kỹ năng học tập có hiệu quả Cập nhật 18/11/2015 Lượt xem 1170

1/  Đọc đi đọc lại :

Đọc lại những gì đã ghi chép sau buổi học hay trước khi đi ngủ sẽ giúp nhớ bài tốt hơn. Sau 9 tuần, những sinh viên xem lại bài trong ngày còn nhớ 75% bài, những sinh viên không làm điều đó không nhớ đến 50% sau một ngày và ít hơn 25% sau 9 tuần.

Có thể đọc một tài liệu nhiều lần, mỗi lần với một mục tiêu khác. Do đó, trước mỗi lần đọc, bạn nên xác định mục tiêu của lần đọc đó là gì và đọc theo đúng mục tiêu đó.

2/ Nắm ý chính:

Nắm được ý chính của tác giả trong mỗi đoạn  văn và hiểu nó theo cách riêng của mình là điều cốt lõi của việc học có hiệu quả. Bạn nên tạo thói quen tìm ra ý chính cuả đoạn để dần dần tóm lược được cả quyển sách.

3/ Trích lược những chi tiết quan trọng :

Thông thường mỗi ý chính trong một bài đều có liên quan đến một chi tiết quan trọng. Nhận diện được càng nhiều chi tiết quan trọng thì càng chuẩn bị tốt cho thi cử vì đã liên hệ được các ý tưởng và kiến thức nền tảng. Xác định càng nhiều liên hệ giữa các chi tiết và các ý, giữa các ý với nhau thì học tập đạt hiệu quả càng cao hơn.

4/ Đừng đọc to :

Đọc to không giúp nhớ bài tốt hơn. Bạn không nên đọc to lên vì mấp máy môi khiến việc đọc bị chậm lại và kém hiệu quả. Muốn bỏ thói quen đó thì nên bỏ ngón tay đè lên môi. Bạn nên cố gắng tập đọc nhanh hơn và  nhớ nhiều hơn. Sau một thời gian bạn sẽ ngạc nhiên vì làm được điều đó dễ dàng hơn. Rèn luyện khả năng đọc nhanh, đọc sâu là vô cùng cần thiết, và hãy duy trì khả năng này suốt đời.

5/ Ghi chép như thế nào:

Không thể ghi kại tất cả những gì thầy giáo nói vì tốc độ nói là 150-200 chữ trong một phút mà khả năng ghi chép tối đa là 25 chữ trong một phút. Cho nên chỉ có thể ghi lại những ý chính và bổ sung sau.

Ghi chép là một khả năng cần được học và rèn luyện mà đa số mọi học sinh đề không có.

Phương pháp ghi chép được coi là Modified outlie :

·    Đặt tựa đề riêng co đề mục.

·    Ghi lùi sang phải từng chi tiết liên quan với đề mục.

·    Dùng những chấm riêng cho từng dòng.

·    Xuống dòng cho mỗi chi tiết

·    Chừa chỗ trống nhiều.

·    Chừa lề trái rộng 1/3 chiều ngang tờ giấy.

+ Kỹ thuật ghi nhanh :

·    Dùng từ viết tắt.

·    Không viết nguyên âm.

·    Dùng chữ bắt đầu một từ.

·    Dùng ký hiệu quy ước.

·    Tạo những từ viết tắt riêng cho mình nhưng tránh thay đổi.

6/ Ghi chép ở đâu.

Bạn cần lưu trữ những điều ghi chép sao cho hợp lý và dễ học. Nên nhớ rằng ngay cả bạn cũng không thể đọc được những gì bạn ghi chép thì ghi thật vô ích. Tốt nhất là nên lưu trữ trong một tập, gồm nhiều trang giấy rời, có ngăn cách giữa các môn học. Nên tạo cho mình thói quen ghi vào tập ghi chép này. Nếu bạn quên không mang theo tập này thì ít ra cũng phải có một tập giấy rời để sẵn và nhanh chóng gắn tờ giấy đó vào vào tập ghi chép đó. Cố gắng bảo quản tập giấy này vì nó rất dễ sờn rách.

7/ Đánh dấu trong sách :

Bạn nên dùng bút dạ quang thay vì gạch chân các đoạn, vì kinh nghiệm cho thấy những đoạn được đánh dấu bằng bút dạ quang dễ nhớ hơn. Tuy nhiên, không nên đọc rồi tô những đoạn quan trọng vì nó ít có hiệu quả.

8/ Ghi chép cái gì .

Tìm hiểu, đặt câu hỏi và lắng nghe.

Ghi chép chính xác và xúc tích là điều cần thiết. Bạn nên tập thói quen ghi chép như đã mô tả trong phương pháp SQ3R. Ví dụ : Như khi bạn nghe giảng, nên hình thành các câu hỏi trong đầu. Công việc của bạn là phải chú ý tập trung vào các điểu chính của bài, chép lại và sắp xếp chúng theo ngôn từ của mình. Nếu bạn thực hiện tốt bước này, việc ôn bài sẽ đơn giản và hiệu quả.

9/ Sắp xếp những điều ghi chép.

Tất cả những gì được ghi chép cần được sắp xếp theo từng mục trên thẻ. Bạn có thể phân loại, xếp các thẻ theo nhu cầu của mình.Điều quan trọng là ghi chính xác tiêu đề để tham khảo trên phần đầu của thẻ. Dùng thẻ này để học,ôn bài, tổ chức thông tin cho các bài báo cáo đều rất tốt. Nếu có máy tính thì nên sắp xếp theo tập tin. Một khi đã sắp xếp được các dữ liệu này thì việc tìm kiếm sửa đổi thật là đơn giản. Nếu bạn có máy in thì có thể in bài ra dưới nhiều hình thức.

 

Để đạt điểm cao môn Địa lý Cập nhật 18/11/2015 Lượt xem 1253

Cô giáo Đinh Lê Thiên Nga, giáo viên môn Địa lý Trường THPT Hà Nội - Amsterdam chia sẻ với thí sinh như vậy về cách ôn tập và làm bài thi tốt nghiệp THPT môn Địa lý đạt hiệu quả nhất.

 
Nắm chắc kiến thức trong sách giáo khoa, thí sinh có thể đạt điểm cao môn Địa lý trong bài thi tốt nghiệp THPT.

Bắt buộc phải lập đề cương ôn tập

Trong môn Địa lý các em nên ôn theo cấu trúc chương, ví dụ trong sách Địa lý lớp 12, phần chương I nói về phần địa lý xã hội Việt Nam bao gồm phần tự nhiên và phần xã hội.

Trong phần tự nhiên thì các em nên học tất cả các phần tự nhiên để dẫn tới phát triển kinh tế. Phát triển kinh tế xã hội Việt Nam thì đi theo các phần, công nghiệp, nông nghiệp, giao thông vận tải, sau đó đến 7 vùng kinh tế trong cả nước. Chắc chắn đề thi sẽ vào 1 trong 7 vùng kinh tế này.

Khi ôn tập môn Địa, điều cơ bản nhất là các em phải lập đề cương để dựa vào đó phát triển ý của mình. Cách học dễ nhất là nên ôn từ cuối sách giáo khoa (SGK) ôn lên vì cuối SGK là chương trình mới học nên dễ nhớ nhất. Đặc biệt, các em không được bỏ phần nào trong SGK.

Môn Địa, học sinh không cần học thuộc nhiều vì đã có cuốn Atlat và bài tập vẽ biểu đồ. Học sinh cần nắm chắc kiến thức trong cuốn tài liệu này vì trong đó chiếm 70% kiến thức môn Địa.

Cuốn Atlat “cứu tinh” gỡ điểm

Cuốn Atlat là tài liệu quan trọng mà các em được mang vào phòng thi. Do vậy, các em cần phải học, hiểu kỹ cuốn sách này vì chính kiến thức trong cuốn sách giúp các em lấy được 50% điểm trong bài thi.

Các bài thực hành vẽ biểu đồ như biểu đồ cột, biểu đồ tròn, biểu đồ đường, biểu đồ miền trong sách các em phải luyện thật nhuần nhuyễn để từ đó phân tích bảng số liệu, nhận xét mối liên hệ giữa các số liệu.

Đối với những bài thi không có trong cuốn Atlat yêu cầu học sinh phải tư duy như đường lối kinh tế, định hướng kinh tế, hướng khắc phục... ví dụ, từng bài khi sử dụng xong Atlat, học sinh phải biết được mối quan hệ giữa các số liệu (kênh chữ, kênh hình) và đưa ra nhận định. Câu nhận định này khó nhưng chỉ chiếm 0,5 điểm.

Để đạt điểm cao với môn Địa lý thì học sinh nên ôn tập và trả lời tất cả các câu hỏi trong SGK.

Trong làm bài thi các em đọc kỹ đề xem câu nào dễ làm trước, câu nào khó làm sau, để không bị mất thời gian sa đà vào một câu hỏi.

Tôi khuyên các em nắm chắc kiến thức SGK là đủ không cần đọc thêm ở ngoài.

Hồng Hạnh (ghi)

Bí quyết để đạt điểm cao môn Văn Cập nhật 18/11/2015 Lượt xem 1237
Cô giáo Nguyễn Thị Ninh, giáo viên tổ Văn Trường THPT Hà Nội - Amsterdam chia sẻ với thí sinh cách ôn tập và làm bài văn đạt điểm cao trong kỳ thi tốt nghiệp THPT.
 
Thí sinh cần phải nắm chắc Cấu trúc đề thi của Bộ GD-ĐT.
 

Mỗi bài văn cần có luận điểm rõ ràng

Muốn đạt hiệu quả cao môn Văn trong kỳ thi tốt nghiệp, thí sinh phải nắm chắc được kết cấu bài thi với 2 câu nghị luận xã hội và nghị luận văn học.

Đối với câu nghị luận xã hội, thí sinh phải nắm chắc kỹ năng làm nghị luận xã hội, biết tổ chức ý trong bài. Học sinh cần chú ý cách tổ chức luận điểm như sau:

- Luận điểm phải khoa học, chính xác

- Luậ̣n điểm phải rõ ràng, mạch lạc

- Luận điểm phải có tính hệ thống

- Luận điểm phải sâu sắc mới mẻ (đề̀̀ xuất được ý kiến mới)

Ví du: Khi đề bài yêu cầu bàn luận một ngạn ngữ Hi Lạp:

"Cái rễ của học hành thì cay đắng nhưng quả của nó thì rất ngọt ngào"

Người viết phải đưa ra được các luận điểm sau:

1.Vai trò của việc học tập đối với con người

2. Quá trình học tập bao giờ cũng gian khổ khó khăn nhưng người ta sẽ gặt hái thành công

3. Có thể hưởng thụ quả tri thức ngọt ngào mà không cần học tập kiên trì không?

Sau khi có luận điểm rồi thì các em phải có dẫn chứng thực tế dựa vào vốn sống về xã hội, trải nghiệm xã hội để thuyết phục người đọc về nguyên nhân xảy ra, thực trạng hiện nay như thế nào, nêu các giải pháp. Các em nên dẫn chứng thực tế nhiều hơn dẫn chứng văn học.

Có kết cấu sáng tạo

Còn ở phần Nghị luận văn học, các em phải nắm rõ xuất xứ, chủ đề tác phẩm văn học ra đời trong hoàn cảnh nào. Đối với văn xuôi thì nắm vững cốt truyện, nhân vật, chi tiết, nội dung nghệ thuật, những sáng tạo độc đáo trong tác phẩm.

Nếu muốn viết được bài văn đạt điểm cao, ngoài việc tổ chức luận điểm sáng rõ mạch lạc, còn cần có kết cấu sáng tạo, từ mở bài đến kết bài. Khi bàn luận hoặc phân tích có đưa ra được những ý kiến mới, đòi hỏi người viết có cảm thụ tinh tê ́và khả năng tư duy độc lập, chọn được dẫn chứng tiêu biểu, trúng vấn đề, có lời bình hay, phát hiện độc đáo.

Ngoài ra, cũng phải chú ý việc triển khai ý khi phân tích tác phẩm văn xuôi phải mạch lạc, lôgic, từ khái quát đến cụ thể. Các ý có sự liên kết chặt chẽ.

Phân tích sâu rồi mới mở rộng so sánh với các tác phẩm tương đồng. Nên đa dạng hóa câu văn, kết hợp câu nghị luận với câu nghi vấn, câu khẳng định, câu biểu cảm, câu văn giàu hình ảnh... Phải huy động vốn từ phong phú.

Với tác phẩm thơ, học sinh cần nắm chắc hoàn cảnh ra đời của tác phẩm, ví dụ: Với bài thơ Tây Tiến, các em phải hiểu bài này viết về đơn vị bộ đội nào, hoạt động ở đâu, hoàn cảnh thực tế họ trải qua gian khổ như thế nào. Điều đặc biệt, chính tác giả bài thơ là người trải nghiệm, người cầm bút, điều này đã giúp cho tác giả sáng tạo nên kiệt tác về người lính rất chân thực, sống động và bất tử.

Tác phẩm thơ khác với văn xuôi. Văn xuôi thiên về chi tiết, nội dung cốt chuyện còn ở thơ là hệ thống hình tượng và ngôn từ, hình ảnh.

Khi phân tích đoạn thơ các em nên đặt trong chỉnh thể tác phẩm và phải nắm được ý chủ đạo, phân tích mối quan hệ giữa đoạn thơ và nghệ thuật song song để làm nổi bật tư tưởng nội dung chính của đoạn thơ.

Dù phân tích văn xuôi hay thơ thì các em nên nhớ để vị trí của nhà văn trong tiến trình văn học. Ví dụ: Đối với nhà văn Tô Hoài thì tác phẩm Vợ chồng A Phủđược trao giải nhất vì cái mới nhà văn thể hiện tư tưởng nhân đạo, tố cáo giai cấp thống trị mà nhà văn đã miêu tả nhân vật trong tính cách đa chiều.

Đối với đề thi Văn “mở” như năm vừa qua cách ra đề mới, tạo khoảng rộng cho chủ thể sáng tạo. Các em không nhất thiết phải theo thứ tự A,B,C giải thích vấn đề tại sao, như thế nào. Tất nhiên, về mặt cốt lõi bên trong phải tuân theo lôgic nhưng làm mới vấn đề đó bằng cách đặt một câu chuyện nhập vào bài luận, từ vấn đề đó mình bàn luận ra.

Ví dụ: Viết về tình yêu quê hương thì các em có thể bắt đầu từ: Tôi nhận được một bức thư của một người bạn nước ngoài đã 5 năm không trở về quê hương. Từ đó, mình viết tình yêu quê hương quan trọng đến mức nào đối với mỗi con người.

Lưu ý: Bài văn đạt điểm cao phải có hình thức đẹp: Kết cấu sáng. Chữ sạch đẹp, rõ ràng. Viết hoa, đúng qui cách, đúng luật chính tả, dẫn chứng luôn để trong ngoặc kép...

Chúc các em thành công!

Hồng Hạnh (ghi)

5 bí quyết để đạt điểm cao môn Tiếng Anh Cập nhật 18/11/2015 Lượt xem 1255
Đó là chia sẻ của cô giáo Bùi Lan Anh, giáo viên môn Tiếng Anh Trường THPT Hà Nội - Amsterdam với học sinh chuẩn bị thi tốt nghiệp THPT 2010.
 
Với bài thi trắc nghiệm, các thí sinh đặc biệt chú ý tới vấn đề thời gian.

Theo cô Bùi Lan Anh, để kỳ thi tốt nghiệp THPT 2010 đạt hiệu quả cao, học sinh cần bám sát chuẩn kiến thức, nội dung chương trình ôn tập, chủ yếu là chương trình lớp 12.

Đối với môn Ngoại ngữ nói chung và môn tiếng Anh nói riêng, học sinh cần nắm vững cấu trúc đề thi do Bộ Giáo dục ban hành. Đề thi hàng năm thể hiện rất rõ những vấn đề cơ bản như: Ngữ âm, ngữ pháp, từ vựng, đọc hiểu và kỹ năng viết.

Môn Ngoại ngữ là môn thi trắc nghiệm nên học sinh cần lưu ý một số kỹ năng làm bài như sau:

I. Đọc đề bài:

Ngay khi nhận đề thi, học sinh nên đọc lướt toàn bộ đề thật nhanh trong vòng vài phút, dùng bút chì gạch ngay vào những vấn đề cần lưu ý trong câu hỏi hoặc các loại bài như xác định cách phát âm, tìm đúng dạng của từ, tìm lỗi sai trong câu....

II. Xác định loại bài:

Để tiết kiệm thời gian, khi làm bài thi, học sinh nên chia câu hỏi thành 3 nhóm.

Nhóm 1: là câu hỏi mà học sinh có thể trả lời được ngay (ví dụ như cách chia động từ khi có điểm thời gian xác định, các giới từ quen thuộc đi với động từ hoặc tính từ, xác định mạo từ...).

Nhóm 2: là những câu hỏi hoặc vấn đề cần phải tính toán và suy luận (thường thể hiện trong các bài đọc hiểu, tìm thông tin đúng hoặc sai, hoặc suy diễn để tìm ý chính cho đoạn văn..).

Nhóm 3: là những câu hỏi còn phân vân hoặc vượt quá khả năng của mình thì học sinh cần đọc kỹ lại và dành thêm thời gian để lựa chọn cho đúng.

III. Phương pháp loại trừ

Khi làm một câu trắc nghiệm, phải đánh giá để loại bỏ ngay những phương án sai và tập trung cân nhắc trong các phương án còn lại.

Thường trong bốn đáp án của mỗi câu hỏi, chắc chắn đã có hai đáp án loại bỏ ngay và chỉ để ý hai đáp án còn lại sẽ dễ dàng hơn trong việc chọn được câu trả lời chính xác và việc lựa chọn này cũng nên quyết đoán.

Vì thi trắc nghiệm là một cuộc đua về thời gian nên học sinh không nên dừng lại quá lâu ở bất cứ câu hỏi nào.Với những câu không biết chắc đáp án chính xác, nên dùng phương pháp loại trừ để loại bỏ được càng nhiều phương án sai càng tốt.

Tuyệt đối không nên để trống một câu nào. Kể cả với những câu không thể trả lời được cũng nên đánh dấu vào một trong các phương án bởi nếu may mắn, học sinh có thể trả lời đúng còn nếu trả lời sai thì cũng không bị trừ điểm.

IV. Chú ý tới vấn đề thời gian:

Đối với mỗi câu hỏi, học sinh sẽ có khoảng từ 1 đến 2 phút để tìm ra đáp án trả lời. Học sinh cần đặc biệt lưu ý những câu hỏi "bẫy", đưa ra nhiều đáp án gần giống với đáp án đúng. Cần hết sức thận trọng và đọc kỹ, hiểu kỹ câu hỏi và các phương án trả lời để lựa chọn chính xác nhất.

Không nên mất nhiều thời gian vào những câu hỏi mà mình không rõ.

VMột số gợi ý ôn tập môn tiếng Anh:

1. Học sinh nên ôn tập theo chủ đề. Mỗi một chủ đề đều cung cấp cho người học một số lượng từ đủ để đọc hiểu một đoạn văn tương tự theo chủ đề đó.

2. Nắm vững các hiện tượng ngữ pháp thông qua các bài tập đã được sách giáo khoa cung cấp như phần Language Focus (các loại bài chia động từ theo các thì (tenses), qui tắc phù hợp về thì (Sequence of tenses), câu chủ động, bị động, các loại câu và cách kết hợp các loại câu cơ bản ...).

3. Làm lại tất cả các bài ôn tập (Consolidation) trong sách. Đây là loại bài tổng hợp kiến thức cơ bản nhất, giúp cho người học khái quát được những vấn đề đã học qua mỗi một chủ đề. Tôi đánh giá rất cao loại bài tập này.

4. Phần khó và hay sai nhất là phần phát âm (Pronuciation), học sinh nên đọc toàn bộ các từ mới ở phần Glossary, vừa kết hợp ôn từ mới, vừa luyện và ghi nhớ cách phát âm cũng như cách đánh trọng âm.

Chúc các em học sinh đạt kết quả cao nhất trong kì thi tốt nghiệp năm học 2009-2010!
 
 
Hồng Hạnh (ghi)
Hệ thống nhap diem

LIÊN KẾT HỮU ÍCH

THỜI TIẾT - TỶ GIÁ

LIÊN KẾT WEBISTE

THỐNG KÊ TRUY CẬP

Đang online : 85
Tổng truy cập : 0

Video

  • Bài hát "Cồn Tiên ngôi trường mếm yêu"

    Xem tiếp