THƠ HAIKU CỦA BASHÔ TỪ GÓC NHÌN PHÊ BÌNH SINH THÁI
Cập nhật 05/12/2015 Lượt xem 1455

THS.TRẦN THỊ LÝ

            Trái đất đang nóng lên, những biến đổi khí hậu đã và đang đe dọa sự sống của con người trên toàn thế giới. Hơn bao giờ hết vấn đề bảo vệ sinh thái trở nên cấp bất ở mọi quốc gia. Nhằm bàn về mối quan hệ giữa con người và tự nhiên, Phê bình sinh thái với tư cách là một khuynh hướng phê bình văn hóa và văn học được hình thành ở Mĩ vào những năm 70 của thế kỉ 20, tiếp đó xuất hiện ở nhiều nước trên thế giới. Với việc hướng tới quan hệ giữa văn học và tự nhiên để làm rõ căn nguyên văn hóa tư tưởng dẫn đến nguy cơ sinh thái, đồng thời chú ý đến thẩm mĩ sinh thái và các biểu hiện nghệ thuật khác của văn học, Phê bình sinh thái đã tự tạo cho mình một diện mạo mới. Việc xem xét các tác phẩm văn chương nghệ thuật diễn tả mối tương tác giữa con người và môi trường, trên thực tế, giúp chúng ta đào sâu sự hiểu biết không chỉ về mối quan hệ này mà còn về mối quan hệ giữa con người với con người. Những hiểu biết này lại có tiềm năng thúc đẩy nhanh hơn những thay đổi văn hóa cần thiết cho việc điều hòa lại những hệ sinh thái bị tàn phá, hạn chế nhiều hơn tình trạng xuống cấp của môi trường và bảo vệ sức khỏe của con người. Nó cũng đòi hỏi chúng ta đánh giá cách ứng xử của văn chương về những hiện tượng diễn ra trên thế giới. Phê bình sinh thái đang đặt ra những vấn đề mang tính thời sự và cũng là một hướng nghiên cứu mới ở Việt Nam đang thu hút sự chú ý của giới phê bình trong những năm gần đây.

           Matsuo Bashô là một thiền sư thi sĩ lỗi lạc thời Edo, đã trở thành hình ảnh vĩ đại được tôn vinh của nền văn hóa Nhật Bản. Bashô chính là người sáng tạo ra thể thơ haiku độc đáo (nay thành thể thơ quốc tế, được nghiên cứu rộng rãi cả trong và ngoài Nhật Bản). Học giả Reginald Horace Blyth khi nhìn nhận hiện tượng Bashô đã tôn vinh hết mực: “Nước Nhật sinh ra cùng với Bashô vào năm 1644. Ông chính là người đã sáng tạo ra linh hồn của Nhật Bản” [1]. Thơ haiku của Bashô đã xây dựng một hệ sinh thái đa dạng, độc đáo, vừa thể hiện vẻ đẹp thiên nhiên Nhật vừa bộc lộ thái độ với môi trường. Đó là một nét văn hóa ứng xử với môi trường tự nhiên mà thiết nghĩ, cần phải trân trọng và học hỏi.

1.HỆ SINH THÁI TRONG THƠ HAIKU CỦA BASHÔ

            Không khó nhận ra hệ sinh thái trong thơ haiku của Bashô, nhưng điều chúng tôi muốn nhấn mạnh là, ở mỗi nhà thơ, mỗi thế hệ thơ, mỗi dân tộc, mỗi thời đại, mối quan hệ giữa con người và môi trường sinh thái lại có những nét khác biệt. Dù thơ Nhật Bản, cũng như nhiều quốc gia phương Đông, thường được cho là có quan hệ mật thiết với thiên nhiên, song biểu hiện ở mỗi dân tộc, ở mỗi nhà thơ là khác nhau. Điều này tạo nên sự đa dạng, phong phú và phong cách không trộn lẫn. Khi đọc thơ haiku của Bashô, chúng tôi thấy rằng dường như bài thơ nào cũng có sử dụng yếu tố thiên nhiên và trong thơ không có sự tách biệt giữa con người và môi trường sinh thái.

            Hệ sinh thái trong thơ Bashô, đó là hình ảnh thiên nhiên Nhật với các vẻ đẹp kỳ thú và luôn chuyển hóa linh động theo bốn mùa. Từ hình ảnh mùa xuân với những đám mây hoa anh đào Trước cánh đào hoa / rộ đời hương sắc / nam mô hoa đào.[*] Và khi xuân đi qua là lúc mùa hạ bắt đầu. Sự di chuyển thời gian, sự tác động của cảm giác Dòng thác trong / giữa làn sóng bạc / trăng mùa hạ lên. Còn thu đến với vẻ quen thuộc của trăng Trăng thu/ suốt đêm tôi dạo / loanh quanh bên hồ; Vầng trăng non dại / theo tôi từ độ ấy / ai có ngờ hôm nay. Con đường hành hương đưa Bashô qua nhiều cảnh đời khác nhau, những giấc mơ, những nỗi buồn tục lụy, tình người, cái chết... thiên nhiên đến làm bạn và chia sẻ với người những buồn vui trên con đường ấy.

            Hệ sinh thái trong thơ Bashô còn là những gì rất đỗi nhỏ bé, bình thường mà không bao giờ tầm thường. Nhà thơ nhận ra vẻ đẹp không ngờ của Con quạ ô / sớm mai trong tuyết, hay cánh đinh hương bé bỏng trôi dạt theo bọt sóng cuộc đời Bên vỏ ốc con / trôi theo bọt sóng / những cánh đinh hương. Thiên nhiên còn hiện lên với cảnh núi non hùng vĩ nhưng cũng rất gần gũi thân quen. Đó là rừng trúc trải dài ẩn hiện trong ánh trăng nghiêng Rừng trúc mông mênh / tiếng chim cu hót / trong ánh trăng nghiêng hay đỉnh Arashi cao ngút ngàn chìm trong mây trời Đỉnh Arashi / những ngày tháng sáu / đặt mây lên mình….Đó còn là sông Mogami tuôn mình như nuốt chửng cả bầu trời rực lửa dìm xuống giữa muôn trùng sóng nước Mogami tuôn dòng / cuốn mặt trời rực lửa / dìm xuống trùng dương. Hay mặt biển hoang vu vắng lặng vươn trải theo dòng sông ngân hà trên đảo Sado Ôi biển hoang vu / ngân hà vươn trải / trên đảo Sado. Là một đất nước với hơn 14.000 hòn đảo, sông núi cũng tạo nên bức tranh sơn thủy với vẻ đẹp Nhật Bản hết sức gần gũi.

            Có thể thấy hệ sinh thái trong thơ haiku của Bashô rất đa dạng và phong phú (cây cỏ, muôn loài, là vầng trăng, dòng nước, là đỉnh núi, dòng sông, bầu trời, mặt đất, hoa bìm bịp, con ốc)… Tất cả đều được đưa vào sáng tác của thi nhân tạo nên một hệ sinh thái trong lành, hoang sơ, thơ mộng ca ngợi vẻ đẹp thiên nhiên Nhật Bản đồng thời thể hiện nét văn hóa coi trọng thiên nhiên của người Nhật xưa.

           2. NHỮNG LINH HỒN TRONG SINH THÁI

            Trong bầu trời sinh thái thơ haiku của Bashô có những thực thể tồn tại những linh hồn, cả linh hồn con người, linh hồn thiên nhiên. Dường như không có một ranh giới để phân định con người với thiên nhiên. Điều này làm cho hình tượng thơ trở nên đa nghĩa. Đặt mình hòa vào thiên nhiên, Bashô đã nhìn ra sức sống và sức mạnh của tự nhiên và điều này đã mang lại một giá trị nhân văn cao cả cho thơ ông. Nhật Chiêu cho rằng “Linh hồn của thơ Bashô là linh hồn của sabi (tịnh tĩnh) và karumi (nhẹ nhàng), linh hồn của một hành giả của ánh sáng và cát bụi” [3]. Đó là cái tịnh tĩnh của vũ trụ xa xưa là tinh thần thiền tông phương Đông. Nó thể hiện sự hòa hợp tuyệt đối giữa con người với thiên nhiên. Theo Bashô “Thơ ca chỉ sinh ra từ sự hòa điệu khi ta và sự vật trở thành một, khi ta đã lặn sâu vào lòng sự vật để nhìn thấy điều gì đó tựa như tia sáng mờ ảo đang ẩn giấu ở đấy. Nếu như cảm thức của ta không tự nhiên, nếu sự vật và ta còn li cách, thì thơ lúc ấy không còn là thơ ca thật sự nữa mà chỉ còn là một thứ đồ vật giả mạo chủ quan của ta” [2]. Chính vì hòa nhập vào thiên nhiên nên Bashô cảm nhận được rằng tự nhiên luôn không im lặng, nó cũng có linh hồn nó gắn bó mật thiết với con người. Vì thế con người nghe tiếng nói của tự nhiên là nghe chính mình, hay phải nghe tiếng nói của tự nhiên để hiểu chính mình. Con người từ chối tự nhiên là từ chối sự hiểu biết về chính mình.

            Ở rất nhiều bài thơ haiku của Bashô chúng ta thấy được sự hòa hợp giữa con người và thiên nhiên: Trên cành khô / cánh quạ đậu / chiều thu. Một khi con người đã hóa thân vào với vũ trụ thì mọi biến suy trên đời sẽ không còn ý nghĩa gì nữa: Mùa thu năm nay / sao tôi chóng già thế / chim sa ở mây trời. Nhân sinh, theo quan niệm của Bashô, là một cuộc lữ hành hay nói đúng hơn, là những chuyến hành trình nối tiếp nhau không dứt. Trên thực tế, hơn nửa mười năm cuối cùng của đời mình, Bashô đã sống trên bước lữ hành và cũng đã trút hơi thở cuối cùng ở nơi nghịch lữ: Dang dở cuộc hành trình / chỉ còn mộng tôi phiêu lãng / trên những cánh đồng hoang. Bashô có khi đi một mình, có khi dẫn theo một hai môn đệ. Với chiếc nón lá hay chiếc mũ vải màu lam, cây trượng và cái đãy đầu đà, Bashô đã phiêu bạt nhiều nơi trên đất nước Nhật Bản. Và trên những cuộc hành trình đó thiên nhiên chính là người bạn gắn bó và gần gũi với người: Mùa xuân ra đi / tiếng chim nức nở / mắt cá lệ đầy. Thiên nhiên trong thơ ông gánh thay người, chia bớt nỗi khổ cho người. Với cái nhìn vô thường tích cực của Phật giáo và triết lý thiền tông đã giúp con người hòa hợp với thiên nhiên, cuộc đời.

            Cần để ý rằng thơ haiku của Bashô tuy phảng phất không khí trầm lắng u huyền, gợi cho người đọc sự vô thường trong cuộc đời, nhưng luôn đượm tình người và không bao giờ mang nét cay đắng chua chát hay u uất, oán hờn mà thiên nhiên vẫn gắn bó, hòa hợp với con người. Ở cách phòng, phía trước nhà, Bahsô nhờ ngồi “thiền” mà nghe rõ những lời tâm sự của hai du nữ. Thi sĩ không hề cảm thấy xấu hổ khi ở chung nhà với gái làng chơi như ánh trăngcỏ bốn lá cùng ngồi chung trong “sân chầu vũ trụ”: Dưới cùng một mái nhà / những du nữ đang ngủ / ánh trăng và cỏ bốn lá. Thơ Haiku không cô lập con người vào chính thân phận của nó, mà gợi cho ta thấy mối tương quan không gì cắt nổi giữa con người và sức sống của môi trường sinh thái. Điều này chúng ta không chỉ thấy trong thơ của Bashô mà còn ở nhiều nhà thơ haiku khác: Ngày đầu năm mới! / may sao! May sao! / trời xanh xanh màu! (Issa). Haiku bao giờ cũng cố gắng qua một sự việc cụ thể, nhỏ nhoi diễn tả cái linh diệu của vận động thiên nhiên: Trên bãi biển triều lui / những gì nhặt lên được / động đậy bồi hồi (Chiyô). Con người giữa đất trời hiện hữu, tự nó đã là một minh chứng cho quy luật tồn sinh của vạn vật. Triết lý Thiền, triết lý Đạo, triết lý Thần ngẫu nhiên gặp nhau trong quan niệm vạn vật bình đẳng và tương giao trên góc nhìn nhân sinh quan và cả vũ trụ quan nữa. Những bài haiku bé nhỏ đôi khi lại có một năng lực, một sức chứa kỳ lạ có thể dung nạp hết mọi đạo lý huyền diệu vào một vài con chữ ít ỏi của thơ ca.

            Con người luôn tự hào mình là “trung tâm”, là “thước đo” cho muôn loài nhưng đọc thơ Bashô chúng ta phải “nhận thức lại” mình: con người và hệ sinh thái luôn bình đẳng, nếu không muốn nói chính hệ sinh thái đã tạo ra con người, quyết định sự tồn tại của con người. Bashô bằng những bài thơ haiku ngắn gọn, hàm súc đã đề cao thiên nhiên, trân trọng và gắn bó, gần gũi với nó. Đọc thơ Bashô chúng ta nhận ra rằng:  Sinh thái cũng có linh hồn, hãy lắng nghe nó, làm bạn với nó vì chúng ta cũng là những linh hồn đang ngủ sâu trong hệ sinh thái kia thôi.

            3. CẢM THỨC SINH THÁI

            Thơ haiku của Bashô mang đậm cảm thức sinh thái: từ cách trình bày, sự trở đi trở lại của một số đề tài cơ bản, một số hình tượng thơ, mối liên hệ giữa tác giả và thiên nhiên… Đi sâu hơn vào các văn bản thơ, chúng ta sẽ thống kê được một số lượng lớn hình tượng nghệ thuật về hệ sinh thái: bốn mùa, bầu trời, con nước, biển đảo, gió, núi… Đó là những hình ảnh của thiên nhiên nhưng cũng là cách nhà thơ bày tỏ cảm nhận của mình về nó. Qua thiên nhiên con người thấy được mình và tìm về với những giá trị nhân bản của sự sống.

            Trong thơ haiku, thi nhân đi tìm những giá trị vĩnh hằng trong dòng biến động của vạn vật. Ông quan niệm tòng theo tạo hóa và quay trở về với tạo hóa, "tả thông thì học thông, tả trúc thì học trúc" và cho rằng trong đời chỉ có hai loại thơ: thơ tự nhiên dung hợp giữa thiên nhiên và nhân sinh còn thơ nhân tạo chỉ có kỹ thuật mà thiếu tấm lòng. Xuất phát từ nhân sinh quan coi trọng và gắn bó với thiên nhiên, Bashô sáng tạo ra những bài haiku mang cảm thức sabi (cái tịch liêu, tĩnh lặng) và wabi (nhẹ nhàng, đơn sơ), với âm điệu sâu thẳm của Thiền đạo và sắc màu tươi nhuận của thiên nhiên mà chúng tôi muốn gọi nó là cảm thức sinh thái. Vì chúng đề cao yếu tố thiên nhiên trong mỗi bài thơ. Dù cảm thức sabi có nghĩa là sự “cô liêu, tịch lặng, cổ xưa, đơn sơ… Nhưng sabi không giới hạn vào những trạng huống cá nhân. Đó là niềm cô tịch vô ngã, như trong những kinh nghiệm thiền quán” [2], nó là sự “cô đơn vũ trụ”. Có thể tìm thấy ở sabi hai phạm trù “vô tận” và “tự nhiên”. Vô tận và tự nhiên hòa hợp vào nhau như tâm hồn con người thấm sâu vào tự nhiên, chạm vào vĩnh cửu. Sự đơn giản của hình thức đôi khi không phải chứa đựng một nội dung tầm thường. Có một thế giới thẳm sâu khác trong một con quạ cô đơn đậu trên cành cây khô, có sự hòa quyện, đánh thức của vũ trụ khi con ếch nhảy vào cái ao cũ. Đôi khi mọi thứ mở ra một vực thẳm vô định bí ẩn, và xuyên qua những hình ảnh sinh thái, chúng ta có thể hé nhìn vào vực thẳm ấy.

           Cảm thức sinh thái thứ hai được phát triển sau sabi là wabi “Wabi (đà) là  nguyên lý cho rằng cái đẹp cao nhất nằm trong vẻ đơn sơ và sự thanh tịnh” [2]. Wabi còn có nghĩa là nghèo nàn, là niềm vui tìm thấy trong cuộc sống giản dị, hòa điệu cùng với những vật bé nhỏ như: dây bìm bịp, tiếng chim cu, con ốc, cái kiến… Chính vì vậy mà thơ haiku gần gũi với thiên nhiên, Đạo của nó là trái tim bình thường, giản dị. Mắt tôi nhìn rõ / đóa nazuna / nở bên hàng dậu. Nazuna loại hoa dại trắng, bé mọn, nó không xinh đẹp và không duyên dáng, nó hoàn toàn vô nghĩa khi đem so với những cành violet, tuylip, hay hồng đơn. Nhưng nó thu hút Bashô bởi sắc trắng trong, ông đến gần, ngắm nó kỹ hơn, và nhận ra đóa nazuna đang nở, loài hoa mà khách qua đường thường không để mắt. Đó là bí mật của tự nhiên, là bí mật của cái tự đồng nhất hóa và sự thâm nhập hay hòa lẫn vào nhau giữa vạn vật và con người, là sự giao hòa tuyệt đối.

            Bashô đã tạo nên một phong cách mới gọi là Shofu (Tiêu Phong) trong đó chứa đựng những quan niệm nghệ thuật của riêng ông. Linh hồn thơ Shofu chính là cái được chỉ rõ như dấu hiệu của nỗi cô đơn là tinh thần fugaFuga có nghĩa là cái đẹp của cuộc đời, là “phong nhã”. Đó là tình yêu thuần khiết cuộc đời và thiên nhiên, là lòng mong mỏi hướng về sabi hoặc wabi theo tinh thần phong nhã “Ai ấp ủ nó sẽ đón nhận thiên nhiên và trở thành người bạn của bốn mùa. Mắt nhìn đâu cũng là hoa cỏ, suy tư nào cũng hướng tới vầng trăng. Nếu nhìn vạn vật mà không thấy cỏ hoa, thì ấy là man rợ; nếu nghĩ suy mà không thấy ánh trăng, thì ấy là cầm thú. Vì thế, tôi kêu gọi: hãy vượt qua man rợ và tăm tối để đón nhận thiên nhiên, trở về với thiên nhiên”. [2]. Cuộc sống phong nhã bắt đầu từ sự hòa nhập bản ngã con người vào linh hồn cái đẹp và sự sáng tạo của thiên nhiên. “Con người phong nhã”, vì thế, nhận ra mối giao cảm thắm thiết của mình trong một đóa hoa và con chim, trong đá cuội và suối nước, trong cơn mưa và vầng trăng. Trong phần viết trích từ lời nói đầu cho một người bạn đường, Bashô đã tự xếp mình vào nhóm các nghệ sĩ như: Saigyo, Sogi, Sesshu và Rikyu - những furabo - một người sống giữa đời tựa mảnh vải mong manh trước gió, những “người điên” bởi họ bị cuốn hút mãi mãi vào thiên nhiên vô tận.

           Cũng để giúp người đọc dễ liên hội với môi trường sinh thái, với cuộc sống cụ thể nhất chung quanh mình, thơ haiku của Bashô nói riêng và các nhà thơ Nhật nói chung luôn đưa mùa vào thơ. Hầu như bài haiku nào cũng chứa đựng một từ là tên mùa hay gợi lên được mùa mà bài thơ đang biểu hiện. Từ ấy gọi là: Kigo. Mùa xuân với tuyết đang tan với chim họa mi Nhật và đặc biệt là với hoa anh đào. Mùa hạ với mưa tháng năm, đom đóm bay và những bông hoa anh túc. Mùa thu với gió thu, với dòng sông Ngân, và đặc biệt với trăng thu. Mùa đông với lá rơi, sương mù, mưa đá và những bông hoa trà... Cách dùng Kigo như thế trở thành quy luật và hầu hết các tuyển tập haiku đều sắp xếp các bài thơ theo từng mùa. Nói thế không có nghĩa là môi trường sinh thái trong haiku “lấn” mất con người. Thực ra, hiện tượng thiên nhiên ở đây được dùng để gợi nên tâm trạng và cảm xúc của con người. Thiên nhiên đi đôi với con người và thậm chí có thể nói họ hòa quyện vào nhau: Chúng ta than tiếc / mùa xuân ra đi / cùng với những người Ômi. Nhấn mạnh đến yếu tố mùa, Bashô muốn cho thấy con người trong thiên nhiên cũng như thiên nhiên trong con người. Con người là thành phần của sinh thái, sinh thái là một phần của con người trong cái toàn thể của vũ trụ.

           Trải qua biết bao thế kỉ, những bài thơ haiku của Bashô đến nay vẫn còn nguyên giá trị. Qua bao nhiêu biến đổi của lịch sử và tự nhiên, con người càng thấm thía tầm quan trọng của môi trường sinh thái đối với sự sống. Chúng ta không thể so sánh người xưa với người nay, dân tộc này với dân tộc khác vì mọi so sánh đều là khập khiểng nhưng có một chân lý mà chúng ta luôn thấy rỏ rằng con người và thiên nhiên luôn có sự gắn kết và quyết định lẫn nhau. Vấn đề là thái độ ở mỗi người lại khác nhau. Với thể thơ haiku, Bashô đã thể hiện tình yêu, sự trận trọng, gắn bó và sống hòa nhập vào thiên nhiên của mình, qua đó giúp chúng ta biết quý trọng và giữ gìn môi trường sinh thái. Đồng thời nó cũng làm cho ta nhìn nhận cuộc sống sâu sắc hơn, hân thưởng với cuộc đời hơn, sống giản dị, có niềm vui thâm trầm và thân mật nẩy sinh trong giao tiếp với vạn vật, với mọi người chung quanh. Giống như haiku luôn nối kết cái nhỏ nhoi và cái lớn lao, khi đọc haiku, ta đọc cả tâm hồn Đông phương và giúp ta đọc lại tâm hồn ta. Cái đẹp của haiku cũng nối kết với cái đẹp của thơ ca cổ điển Việt Nam trong kho tàng thơ ca phương Đông. Quan tâm thể hiện nhiều đến sinh thái, có thể nói, thơ haiku của Bashô là sản phẩm tinh thần riêng của người Nhật, là niềm tự hào của đất nước Phù Tang, của xứ sở hoa anh đào và cũng là sự tự hào của nhân loại trên toàn thế giới.          



[*] Tất cả các bài thơ trích trong bài này lấy từ hai tập thơ Lối lên miền OkuÁo rơm cho khỉ của M.Bashô

 

[1]               Reginald Horace Blyth (1960). Japanese life and Character in Senryu. NXB Hokuseido, Tokyo.

[2]              Nhật Chiêu (1994). Bashô và thơ haiku. NXB Văn học, TPHCM.

[3]              Nhật Chiêu (1998). Thơ ca Nhật Bản. NXB Giáo dục, Hà Nội.

 


Các tin khác
Giáo án quốc phòng (Ngày cập nhật: 18/05/2016)
Hệ thống nhap diem

LIÊN KẾT HỮU ÍCH

THỜI TIẾT - TỶ GIÁ

LIÊN KẾT WEBISTE

THỐNG KÊ TRUY CẬP

Đang online : 16
Tổng truy cập : 0

Video

  • Bài hát "Cồn Tiên ngôi trường mếm yêu"

    Xem tiếp